Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích; nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. Xóa án tích theo Bộ luật hình sự năm 2015. 09:23 - Thứ Tư, 24/01/2018. Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích; nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm Đương nhiên xóa án tích. Căn cứ Điều 70 Bộ luật hình sự quy định các trường hợp được đương nhiên xoá án tích như sau: - Những người bị kết án không phải về các tội quy định tại chương XIII và chương XXVI của bộ luật này khi họ chấp hành xong hình phạt chính. Xóa án tích theo Bộ luật hình sự năm 2015. CHU VĂN QUANG (VKSND quận Thanh Xuân, Hà Nội) - Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích; nhân đạo, khoan hồng đối với Bộ luật Hình sự năm 2015 phân chia các trường hợp người được xóa án tích cụ thể như: 1. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt thì không bị coi là có án tích ( Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Trong những số ấy có dự án Luật BHXH sửa đổi. Theo đó, dự loài kiến tại kỳ họp lắp thêm sáu (diễn ra trong thời điểm tháng 10-2023), chính phủ quốc hội cho chủ kiến về dự án công trình Luật BHXH (sửa đổi) để chính phủ nước nhà hoàn thiện dự luật. Sau đó, tại R0f7B. - Xóa án tích là một chế định quan trọng, cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện nguyên tắc nhân đạo, dân chủ xã hội chủ nghĩa và tôn trọng quyền con người. Với chế định này, Nhà nước ta đã ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội nhằm xóa bỏ đi quá khứ đã từng bị kết án của họ, từ đó giúp xóa bỏ thành kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Kế thừa và hoàn thiện Bộ luật Hình sự BLHS năm1999, BLHS năm 2015 tiếp tục sửa đổi, bổ sung chế định về án tích và đương nhiên xóa án tích cho phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định về đương nhiên xóa án tích theo BLHS 2015, chúng tôi thấy có một số vướng mắc, nhiều nội dung của quy định đương nhiên xóa án tích còn có những nhận thức khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng. quy định đương nhiên xóa án tích Điều 70 về Đương nhiên được xóa án tích có quy định “1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Người bị kết án đương nhiên được xóaán tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây a 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; d 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm,tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Người bị kết án đương nhiên được xóaán tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.” Theo quy định tại Điều 70 nêu trên hiện đang có hai quan điểm về thời hạn để tính đương nhiên xóa án tích. Quan điểm thứ nhất cho rằng Thời hạn để được coi là đương nhiên xóa án tích được tính từ khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách của án treo như quy định tại khoản 1 của Điều 70, còn việc họ chấp hành hình phạt bổ sung hoặc các quyết định khác của bản án không ảnh hưởng đến thời hạn để họ được đương nhiên xóa án tích. Quan điểm thứ hai cho rằng Dù chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời gian thử thách của án treo thì người phạm tội vẫn phải chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian quy định. Thời gian được xóa án tích sẽ bắt đầu được tính từ khi họ chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, vấn đề có lợi chỉ là thời hạn mà họ không thực hiện hành vi phạm tội mới được rút ngắn hơn. Những người đồng ý với quan điểm thứ nhất cho rằng, quy định tại khoản 1 Điều 70 là bất cứ người bị kết án nào không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn như quy định tại khoản 2 Điều 70 thì được coi là đương nhiên xóa án. Theo tôi, cách hiểu như vậy là không đúng nội hàm của Điều luật. Tại khoản 1 của Điều 70 ngoài việc quy định như trên còn có quy định dẫn chiếu là “…và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”. Còn khoản 2 và 3 có quy định “2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây… Người bị kết án đương nhiên được xóaán tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này”. Do vậy, theo tôi cách tính thời hạn để được coi là đương nhiên xóa án tích phải áp dụng như quan điểm thứ hai mới phù hợp và đúng quy định của pháp luật, tức là chỉ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án thì mới được áp dụng thời hạn theo quy định để tính đương nhiên xóa án tích. Còn việc hình phạt chính đã tuyên chỉ là căn cứ áp dụng thời hạn để xóa án tích chứ không phải là tính thời hạn để đương nhiên xóa án tích là từ khi chấp hành xong hình phạt chính đã tuyên Ví dụ Nếu hình phạt chính đã tuyên là ba năm thì thời hạn áp dụng để đương nhiên xóa án tích là 02 năm. Do vậy, không thể áp dụng theo quan điểm thứ nhất được. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, chúng tôi thấy, quy định về cách tính thời hạn đương nhiên xóa án tích như quy định tại Điều 64 BLHS 1999 và Điều 70 BLHS 2015 cũng chưa thỏa đáng, chưa thực sự bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nên chúng ta phải hướng tới những quy định nhân đạo hơn với người phạm tội. Thực tế, có những người đến khi chết vẫn chưa được xóa án tích bởi quy định người được xóa án tích phải chấp hành xong tất cả các quyết định của bản án, kể cả hình phạt bổ sung, cũng như bồi thường thiệt hại. Về vấn đề bồi thường thiệt hại, có những trường hợp phải bồi thường rất lớn, bản thân họ có đi tù về cũng chưa chắc đã làm đủ ăn thì sao có thể bồi thường được và như vậy không biết bao giờ họ mới được tính thời hạn để xóa án tích. Tương tự như vậy, những trường hợp phải cấp dưỡng nuôi con hoặc bố, mẹ già của người bị hại, nếu không thỏa thuận được thì phải cấp dưỡng theo hàng tháng, như vậy có những trường hợp cấp dưỡng tới 18 năm, có trường hợp cấp dưỡng tới lúc chết thậm chí có trường hợp người phải cấp dưỡng lại chết trước người được cấp dưỡng. Do đó, cần nghiên cứu sửa đổi lại quy định về thời hạn để tính đương nhiên được xóa án tích theo hướng quy định “ Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong các quyết định hình sự của bản án”. Trong các vụ án hình sự, thì các quyết định hình sự của bản án, chính là hình phạt chính bao gồm các hình phạt chính được quy định tại Điều 32 BLHS 2015. Sửa đổi như vậy, sẽ tạo điều kiện để người đã từng bị kết án làm lại lại cuộc đời, tái hòa nhập cộng đồng, có ích cho xã hội… cách tính thời hạn để xóa án tích Qua nghiên cứu những vấn đề liên quan đến xóa án tích theo quy định của BLHS 2015 thì thấy, tại khoản 2 Điều 69 và Điều 107 quy định rõ năm trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích, gồm Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; người đã thành niên bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; người được miễn hình phạt. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 73 quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích thì chúng tôi lại thấy có nhiều điều chưa hợp lý. Cụ thể Điều 73 quy định “1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóaán tích, có tội thuộc trường hợp xóaán tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lạicũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt”. Quy định trên có những vấn đề chưa hợp lý như sau Thứ nhất Theo quy định tại khoản 2 của Điều 73 thì một người nào đó đã bị kết án chưa được xóa án tích và lại thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại, có phải bắt đầu được tính kể từ khi họ chấp hành xong hình phạt chính chứ không cần phải chấp hành xong tất cả các quyết định khác của bản án? Nếu vậy thì có mâu thuẫn với quy định tại Điều 70, 71 không? Khoản 2 Điều 71 còn quy định thêm cụm từ “hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới”. Chúng tôi thấy quy định này không hợp lý bởi lẽ Người bị kết án, chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị đưa ra xét xử, thì lần phạm tội này đối với họ đã bị coi là tái phạm. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2013, hướng dẫn việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo có hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 là “Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nới cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật…”. Nếu hiểu theo quy định tại khoản 2 Điều 71 thì phải chăng được phép cho hưởng án treo cả trong trường hợp tái phạm? Thứ hai Quy định tại khoản 2 Điều 107 về xóa án tích có sự mâu thuẫn với Điều 70 và gây bất lợi cho người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Tại khoản 2 Điều 107 có quy định “2. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xoá án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Theo chúng tôi, quy định trên là mâu thuẫn với quy định đương nhiên được xóa án tích tại Điều 70 và gây bất lợi cho người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bởi lẽ Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 quy định về tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi thì “1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi… nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định” và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 12/5/2006 thì “B. Trường hợp người chưa thanh niên phạm tội là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì hình phạt áp dụng đối với họ là ¾ mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội.” Ví dụ Một người 17 tuổi phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” bị xét xử theo khoản 2 Điều 134 thuộc trường hợp rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ năm đến mười hai năm. Nếu người bị kết án là người thành niên thì bị xử 06 năm tù, nhưng người bị kết án mới 17 tuổi nên mức hình phạt của họ bằng ba phần tư là bốn năm sáu tháng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích của họ sẽ là 2 năm, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích của họ lại là ba năm. Đây chính là sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 2 Điều 107 với khoản 1 Điều 70 của BLHS 2015 và gây bất lợi cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong trường hợp tính thời hạn để được đương nhiên xóa án tính. Trên đây là một số ý kiến về quy định đương nhiên được xóa án tích trong BLHS 2015, rất mong TANDTC có hướng dẫn kịp thời để việc áp dụng được thống nhất, đồng thời, cũng có ý kiến với Quốc hội để sửa đổi kịp thời những quy định còn mâu thuẫn trong BLHS 2015. - Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích; nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. – Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015 đã điều chỉnh định nghĩa về người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và bỏ đi quy định về việc phải “được Tòa án cấp giấy chứng nhận” như trong BLHS trước đây. Với quy định mới này, BLHS năm 2015 đã giải quyết được những khó khăn đối với người chấp hành xong bản án; rút bớt các thủ tục, đồng thời chuyển trách nhiệm cập nhật thông tin về án tích của người bị kết án sang cho các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp khoản 4 Điều 70 – Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Đó là 1 Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; 2 Người được miễn hình phạt; 3 Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; 4 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; 5 Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Như vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi đối tượng xác định mang án tích so với trước đây. Theo đó, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ khi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và bị áp dụng hình phạt mới phải mang án tích và đối với họ được áp dụng hình thức xóa án tích đương nhiên. Đối với người đã thành niên thì họ phải mang án tích trong trường hợp bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị kết án do lỗi cố ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng. – Khoản 2 Điều 70 quy định giữ nguyên thời hạn 01 năm để được xóa án tích đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; nhưng rút ngắn thời hạn để được xóa án tích theo hướng còn 02 năm đối với trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm và 05 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Đồng thời, quy định rõ hơn đối với trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xoá án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn a 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; d 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm Khoản 2 Điều 107. – Thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới và có lợi người cho người bị kết án trong cách tính thời hạn xóa án tích trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo quy định trước đây thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Ngoài ra, trong thời hạn xóa án tích thì người bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Tội phạm mới này có thể là bất kỳ loại tội phạm nào cũng như có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu như người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015. – Xóa án tích theo quyết định của Tòa án Điều 71 được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện + Tòa án quyết định xóa án tích căn cứ vào tính chất tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án. + Thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án được xác định là từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn a 01 năm nếu bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 05 năm nếu bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm, d 07 năm nếu bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn trên thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đối với trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích. – Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Điều 72 người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật hình sự 2015. Theo Quy định về xóa án tích theo Bộ luật Hình sự năm 2015? Đương nhiên xóa án tích theo quy định của Bộ Luật Hình sự năm 2015? Thủ tục, trình tự xóa án tích?Như chúng ta có thể thấy, trong Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về các loại tội phạm tương ứng với hành vi gây ra tội, các hình phạt riêng để xử phạt nhưng vẫn có những điều quy định về giảm nhẹ tội danh được hưởng khoan hồng từ nhà nước nếu như xét thấy có các tình tiết giảm nhẹ hoặc trong thời gian chấp hành án có thái độ, hành động thực hiện tốt. Trong trường hợp bị kết án tù thì có thể được xóa án tích và được coi là chưa bị kết án. Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến – Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; – Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 12/2017/QH14; – Công văn số 04/TANDTC-PC về việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41 của Quốc hội; Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về xóa án tích như sau “Điều 69. Xóa án tích 1. Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của Bộ luật này. Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. 2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.” Có thể thấy Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích, nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. Cụ thể – Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015 đã điều chỉnh định nghĩa về người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và bỏ đi quy định về việc phải “được Tòa án cấp giấy chứng nhận” như trong BLHS trước đây. – Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Đó là + Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; + Người được miễn hình phạt; + Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; + Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; Như vậy, từ nội dung trên có thể thấy Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định rất rõ về xóa án tích đối với những trường hợp bị kết án thuộc một trong số những tội về xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh sau khi đã chấp hành hình phạt xong. 2. Đương nhiên xóa án tích theo quy định của Bộ Luật Hình sự năm 2015 Tại Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về trường hợp đương nhiên xóa án tích như sau – Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định là các tội về xâm phạm an ninh quốc gia như tội phản bội tổ quốc, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,….. và tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh như phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê,….. của Bộ luật khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. – Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạnđối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo là 01 năm; trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm là 02 năm; trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm thì thời hạn đương nhiên xóa án tích là 03 năm và 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 70 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm đã chấp hành xong hình phạt bổ sung. Trong trường hợp này người bị kết án sẽ đương nhiên được xóa án tích. Các trường hợp cần Quyết định xóa án tích của Tòa án. Tại Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về các trường hợp về xóa án tích theo quyết định của Toà án như sau – Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định các tội về xâm phạm an ninh quốc gia như xâm phạm an ninh lãnh thổ, khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân,….. và tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh như gây chiến tranh xâm lược, tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê, làm lính đánh thuê…..của Bộ luật. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. – Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn 01 năm đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm được xóa án tích trong 03 năm; trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm thì thời hạn xóa án tích là 05 năm và 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. – Đối với trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích. Theo đó, Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết án về các tội Tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hòa bình, chống lại loại người và tội phạm chiến tranh. Như vậy, đối với trường hợp của bạn nếu bị kết án 10 năm từ mà không bị kết án về các tội Tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hòa bình, chống lại loại người và tội phạm chiến tranh thì thời gian đương nhiên được nhiên được xóa án tích của bạn là 5 năm và không phạm tội mới trong thời hạn 5 năm. Bạn chấp hành phạt tù xong từ năm 2012 nhưng nếu như hoàn thành các nghĩa vụ về bồi thường nếu có thì 2017 bạn vẫn chưa được xóa án tích. Còn nếu như bạn chấp hành xong mọi nghĩa vụ cả bồi thường cả hình phạt tù từ năm 2012 thì đến 2017 là 5 năm thì bạn sẽ đương nhiên được xóa án tích. 3. Thủ tục, trình tự xóa án tích Hồ sơ xóa án tích trong trường hợp đương nhiên xóa án tích, hồ sơ bao gồm – Đơn xin xóa án tích – Các tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp; giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khoản bồi thường, án phí, tiền phạt; giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an Quận, Huyện nơi người bị kết án thường trú cấp. – Bản sao hộ khẩu; – Bản sao chứng minh nhân dân. Trình tự thực hiện – Người xin xóa án tích nộp hồ sơ xin xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường Bưu điện. – Tòa án cấp giấy chứng nhận hoặc ra Quyết định xóa án tích và người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Đối với trường hợp đương nhiên được xóa án tích + Người thuộc diện được đương nhiên xóa án tích nộp đơn đến cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có thẩm quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích. + Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện để được đương nhiên xóa án tích, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích. Đối với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt + Người bị kết án phải có đơn yêu cầu xóa án tích gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập. + Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án. + Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích. + Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập. Thẩm quyền xét đơn xin xóa án tích + Tòa án đã xét xử sơ thẩm là Tòa án có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận xóa án tích, hoặc ra Quyết định xóa án tích. Như vậy, để áp dụng trình tự thủ tục xóa án tích như chúng tôi đã trình bày bên trên thì tất cả các trường hợp là đối tượng được xóa án tích phải đáp ứng được các điều kiện về loại tội phạm, đã chấp hành xong bản án và có thời hạn kết thúc chấp hành án theo quy định. Một người bị kết án hình sự đã được xóa án tích thì họ sẽ không phải gánh chịu hậu quả của việc từng bị kết án mang lại. Án tích là hậu quả pháp lý về nhân thân của người bị kết án và áp dụng hình phạt được lưu lại trong lý lịch tư pháp. Khi một người bị tuyên án hình sự thì hậu quả mà người đó phải gánh chịu không chỉ là hình phạt trong Bản án mà người đó còn bị coi là có án tích trong lý lịch tư pháp. Người có án tích sẽ bị hạn chế về quyền lợi so với những người không có án tích. Tuy nhiên, án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn, sau khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật thì án tích sẽ được xóa. Khi đó người đã xóa án tích được coi như chưa bị kết nhất, ý nghĩa của việc xóa án tíchi Về mặt pháp lý Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự quy định “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”. Như vậy, một người bị kết án hình sự đã được xóa án tích thì họ sẽ không phải gánh chịu hậu quả của việc từng bị kết án mang lại. Nghĩa là, sau khi xóa án tích, họ trở thành người bình thường về mặt tư pháp và họ không bị hạn chế về quyền lợi do đã từng bị kết án. Khi một người đã được xóa án tích thì Tòa án sẽ không căn cứ vào tiền án đã được xóa để xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.ii Về mặt xã hội Xóa án tích là một việc làm thể hiện tính nhân văn của nhà nước đối với những người đã bị kết án hình sự, tạo điều kiện cho họ làm lại cuộc đời, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, thay đổi bản thân để cống hiến cho xã hai, các trường hợp được xóa án tíchi Đương nhiên được xóa án tích Bộ luật Hình sựNgười bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh được quy định trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo, hình phạt bổ sung hoặc hết thời hiệu thi hành bản án mà không thực hiện hành vi phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích trong thời hạn sau01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm đủ các điều kiện nêu trên và có yêu cầu thì Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích đối với người đương nhiên được xóa án tích.ii Xóa án tích theo quyết định của Tòa án Điều 71 Bộ luật Hình sựNgười bị kết án về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh được quy định trong Bộ luật hình sự. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án mà không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.iii Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Điều 72 Bộ luật hình sựTòa án có thể quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Trong trường hợp này, người bị kết án phải thỏa mãn điều kiện có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị.iv Xóa án tích đối với pháp nhân thương mại Điều 89 Bộ luật Hình sựPháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội ba, trình tự, thủ tục xóa án tíchNhững người bị kết án, nếu đủ điều kiện xóa án tích thì nộp hồ sơ xin xác nhận xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm, hồ sơ gồmĐơn xin xóa án tíchCác tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam; giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khoản bồi thường, án phí, tiền phạt, truy thu; giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an Quận, Huyện nơi người bị kết án thường trú sao hộ khẩu;Bản sao chứng minh nhân với xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, ngoài các lọai tài liệu như trên, phải có văn bản đề nghị của chính quyền, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án thường trú, công khi nhận hồ sơ, Tòa án kiểm tra nếu thấy hồ sơ đầy đủ và hợp lệ thì sẽ cấp giấy chứng nhận hoặc ra Quyết định xóa án tích đối với người bị kết xin xóa án tích không phải nộp bất kỳ khoản phí nào cho Tòa sư Nguyễn Thị Phương Hoa - Phòng tranh tụng của Công ty Luật TNHH EverestXem thêmGiới thiệu về Công ty Luật TNHH EverestDịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH EverestHoạt động vì cộng đồng của Công ty Luật TNHH EverestKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH EverestBài viết trong lĩnh vực hình sự nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật1900 6198, E-mail[email protected]. Sau khi một người phạm tội đã nhận những quyết định hoặc bản án của tóa án xác định những hình phạt mà bản thân phải nhận khi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Ngay lúc này, người đó đã có “án tích” trong lý lịch của mình. Vậy làm cách nào để xóa án tích trên? Bài viết sau đây sẽ đề cập đến các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này. Khái niệm án tích, xóa án tích Hiện tại, trong Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về khái niệm “Án tích”. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, phần lớn mọi người đều hiểu khái niệm án tích như sau Án tích là một hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải chịu. Khi có bản án hoặc quyết định của tòa án xác định rằng người đó có tội, hồ sơ lý lịch của người phạm tội sẽ có thêm phần ghi chú về án tích. Đây là một trong những hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự. Nhân thân của người phạm tội sẽ có “vết”, và đó có thể là một căn cứ để xác định việc tăng nặng mức án hình sự phải chịu nếu người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cho đến khi được xóa án tích. Khi đã đảm bảo được đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật, người phạm tội sẽ được xóa án tích. Xóa án tích là một chế định hình sự nổi bật được quy định trong pháp luật, chế định này khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội. 2. Án tích xuất hiện khi nào? Người bị áp dụng án tích là những người vi phạm pháp luật trừ một số các trường hợp sau đây sẽ không phải chịu biện pháp này + Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng + Người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích. 3. Trường hợp đương nhiên được xóa án tích Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, với một số các trường hợp sau đây, người phạm tội sẽ đương nhiên được xóa án tích. Trường hợp 1 Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án trừ các tội danh quy định tại Chương XIII về các tội phạm an ninh quốc gia và Chương XXVI về các tội phạm phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 bộ luật này. Trường hợp 2 Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây a 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; d 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Trường hợp 3 Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 bộ luật này. Sau khi có các vấn đề liên quan đến án tích, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này. Xóa án tích theo quyết định của tòa án Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau “Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đâya 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;b 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;c 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;d 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.“ Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Ngoài việc được xóa án tích theo trường họp đương nhiên và theo quyết định của tòa án, theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, những người có án tích sẽ vẫn có thể được xóa án tích trong một số trường hợp đặc biệt. Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này. Cách tính thời hạn để xóa án tích Cách tính xóa án tích được quy định tại Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau 1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. 2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành. 3. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó. 4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt. Trên đây là bài viết về Quy định về xóa án tích theo Bộ luật hình sự năm 2015 và các văn phản pháp lý liên quan. Quý bạn đọc lưu ý, những nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm tình huống xảy ra. Để nắm bắt rõ hơn về phương án giải quyết, Kính đề nghị Quý bạn đọc liên hệ trực tiếp đội ngũ Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của Công ty Luật hợp danh H3T qua SĐT hoặc 0982149299. Chào chị, Ban Biên tập xin giải đáp thắc mắc của chị như sau1. Án tích là gì?Án tích là một thuật ngữ không được định nghĩa rõ trong quy định pháp luật hình sự. Tuy nhiên, theo các quy định pháp luật liên quan thì có thể định nghĩa án tích là đặc điểm xấu hậu quả về nhân thân của người bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi và lưu lại trong lí lịch tư pháp trong thời gian luật định. Khi người phạm tội đã bị tòa tuyên án hình phạt thì hậu quả pháp lý mà họ phải chịu không chỉ là việc phải chấp hành hình phạt đó mà còn bị coi là có án tích - đặc điểm đó trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội. Án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn. Sau một thời gian và kèm theo điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật, án tích sẽ được Xóa án tích? Trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích?Người bị kết án về hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi chấp hành xong hình phạt tù và trải qua thời gian thử thách thì được xóa án quy đinh tại khoản 1 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người được xóa án tích thì coi như chưa bị kết hợp người bị kết án không bị coi là có án tíchTại Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Cụ thể- Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng;- Người được miễn hình phạt;- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì;- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;- Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo Các trường hợp được xóa án tích?Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 03 trường hợp được xóa án tích bao gồm Đương nhiên được xóa án tích; Xóa án tích theo quyết định của Tòa án; Xóa án tích trong trường hợp đặc Đương nhiên được xóa án tíchTheo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, các trường hợp đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích gồm- Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 Bộ luật Hình Người bị kết án được xóa án tích trong trường hợp từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;+ 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ Người bị kết án được xóa án tích, trong trường hợp từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình Xóa án tích theo quyết định của Tòa ánĐiều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các trường hợp đủ điều kiện xóa án tích theo quyết định của Toà án gồm- Xóa án tích theo quyết định của Toà án được áp dụng với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 71 Bộ luật Hình sự năm án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây+ 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;+ 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản 2 Điều 71 Bộ luật Hình sự thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật Hình Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án Xóa án tích trong trường hợp đặc biệtTrường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Hình sự năm 2015.*Trường hợp xóa án tích với người phạm tội dưới 18 tuổi- Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;+ Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương XII Bộ luật Hình Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội trọng!Đây là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email info

xóa án tích theo bộ luật hình sự